Loading...
   

Xem hình lớn

Còn lại với thời gian - Lasting with time(Bộ phim đoạt giải Cánh diều vàng 2005) - F2426

Mã sản phẩm: F2426


Giá: 10,000 (đ)

Ở Việt Nam, vào thời kỳ nở hoa của thể loại phóng sự – tài liệu cuối những năm 1970 đầu 1980, thứ chủ nghĩa duy mỹ sơ lược, thô thiển đã bị giới làm phim phóng sự tài liệu phanh phui, mổ xẻ để lên án gay gắt. Không có cái đẹp chung chung, cái đẹp thoát ly khỏi nội dung và cái đích cần tới. Và cũng không chỉ có một quan niệm về cái đẹp, chất thơ.

Bộ phim tài liệu nhựa Còn lại với thời gian đoạt giải Cánh diều vàng năm 2005 (Hãng phim Tài liệu – Khoa học Trung ương) đề cập tới một vấn đề khá xúc động: những bức thư của những người chiến sỹ đã hy sinh trên các chiến trường trong chiến tranh chống Mỹ, nay còn giữ được đã nói gì với đời sống chúng ta? Một đề tài khá nhạy cảm, hàm xúc nhiều tầng ý nghĩa, xưa cũ mà mới đấy, bởi lẽ đến tận bây giờ mới động chạm tới. Phim huy động được rất nhiều tư liệu quí: những toa tầu, những chuyến xe Jil chở đám lính trẻ ra chiến trường; cảnh sinh hoạt của bộ đội, dân quân tại trận địa pháo Nam Ngạn Hàm Rồng; cảnh bom rơi đạn nổ trên tuyến đường mòn Trường Sơn; cảnh tấn công đồn bốt địch tại miền Nam… Nói không quá thì bản thân những mét phim cũ ấy đã có sức lay động lòng người, truyền tới người xem một cách may mắn, tinh tế những gì mà các tác giả muốn nói. Đan xen với số mét phim tư liệu kia – như một sự tất yếu – là số mét phim quay trong ngày hôm nay. Bởi lẽ vô tình hay cố ý các tác giả phải làm phép so sánh cái đã xảy ra trong ngày hôm qua và cái đang xảy ra trong ngày hôm nay.

Ấy thế mà điểm khập khễnh, chỗ không đồng bộ rất đáng bàn ở đây lại nằm chính ở phần phim quay thêm đó!

Một bà mẹ (hơi quá trẻ và gương mặt có phần vô cảm) ngồi trong một bố cục chông chênh trên sân ga như một hình ảnh tượng trưng để đón những đứa con từ mặt trận trở về (có phần gợi ý từ phim Bài ca người lính chăng?). Cảnh này được lặp đi lặp lại nhiều lần trong phim. Dòng sông Mã, cầu Hàm rồng và vùng Nam ngạn hôm nay, mảnh vườn với bể nước xây, giàn trầu không trong cơ ngơi của một người đàn bà thuỷ chung chờ đợi người yêu không trở về từ mặt trận. Và còn nhiều, nhiều cảnh như thế nữa. Những cảnh này – suy ngẫm một chút – sẽ thấy không chỉ không phục vụ cho những mét phim tư liệu kia – nói riêng mà trái lại, còn như gây phản cảm khi người xem tiếp thu chủ đề mà phim muốn nói.


Cảnh phim Còn lại với thời gian
 
Nguyên nhân ư?

Thấy ngay, đó là sự không xử lý phần màu sắc của bản thân phim truyền hình cho hoà tông với chất đen trắng của phim tư liệu. Nhưng cái sơ sểnh này không đáng kể, không lớn lắm.

Điều đáng nói nhất là quan niệm về cái đẹp và từ đây dẫn đến cung cách tạo hình của ống kính quay phim. Này đây, bản thân phim tư liệu là những gì ngổn ngang, te tua sau mỗi trận máy bay Mỹ đánh phá; là khói đen, những đám lửa cháy; là cái khó khăn cân đối, hài hoà của những gì ống kính chộp bắt được khi quay những cảnh trận mạc; là bố cục “động” của khuôn hình khi ống kính không thể chủ động được ở nơi đạn nổ bom rơi… Cái đẹp ở cung cách tạo hình trong những bộ phim phóng sự chiến tranh như thế vượt qua quan niệm đẹp thông thường và phải được đo bằng những thang trật khác. Cung cách tạo hình những mét phim quay thêm trong Còn lại với thời gian vẫn là cái “đèm đẹp”, cái đẹp “mang chất thơ”. Mỗi cảnh quay đều được ngắm nghía, trù liệu khá kỹ càng, vị trí của người và vật trong từng cảnh quay này, người xem am tường nghề nghiệp đôi chút, có cảm giác như người cầm máy quay chưa từng để mắt tới kịch bản văn học, chưa thẩm thấu được chủ đề của bộ phim. Và tự nhiên mảng tư liệu và mảng phim máy quay thêm như trượt trên hai đường song hành mà không bao giờ có điểm hội tụ.

Vài năm trước, cũng trong một kỳ xét giải Diều Vàng, Diều Bạc, người viết những dòng này cũng đã từng chứng kiến hai bộ phim phóng sự nhựa của cùng một Hãng phimTài liệu – Khoa học Trung Ương rơi vào tình trạng ấy. Phim đầu, kể về nỗi cơ cực, vất vả, “đổi bát mồ hôi lấy bát cơm” ở một vùng làm muối. Tứ phim rất hay. Sự phát hiện là rất mới mẻ. Đáng tiếc sao, với chủ đề ấy nhưng cung cách tạo hình lại quá chuốt, từng góc quay quá kỹ, mỗi khuôn hình như một bức tranh đẹp … Người cầm máy dường như nhâm nhi, thưởng ngoạn cảnh vất vả, cực nhọc của người đang hiện diện trước ống kính. Bộ phim thứ hai kể về cuộc sống lam lũ, không ổn định của đám trẻ nhỏ tại một xóm “liều” cư ngụ dưới chân cầu Long Biên, Hà Nội. Cũng là cách quay được quan sát tính toán quá kỹ lưỡng đến tỉnh táo, khách quan. Và hiệu quả là hình ảnh đi một đằng, điều phim muốn động chạm tới nằm ở một hướng khác!

Những nét thiếu sót, lệch lạc trên dễ tìm ra nguyên do.

Tại các cơ sở đào tạo điện ảnh hiện nay, các em sinh viên rất hiếm khi được chạm tay tới chiếc máy quay phim nhựa. Có nghĩa là càng khó có điều kiện đúc rút, thể nghiệm việc tạo hình bằng phim nhựa. Thành thử, với những bài học cơ bản thày truyền thụ, các em chỉ hiểu được một quan niệm về “thế nào là đẹp?”, còn quan niệm thứ 2, thứ 3, thứ 4… ra sao, các em không biết tới.

Ra trường, được nhận về hãng phim, rồi được giao máy, giao phim, các em luôn luôn bị đe nẹt, dặn dò về cái tỷ lệ 1/3 khống chế; trong khi đó, khác với việc quay phim video, các em hầu như không bị thời gian câu thúc. Thế là cứ tha hồ mà ngắm nghía, tìm tòi, chọn góc, chọn cảnh…

Căn bệnh duy mỹ một cách giản lược như thế ngay cả những người cầm máy thâm niên cũng đã từng mắc phải. Có thể dẫn bộ phim tài liệu nổi tiếng Đường ra phía trước của cố nghệ sỹ Nhân dân Hồng Sến ra đây làm ví dụ. Phim kể về công việc tiếp lương tải đạn tại Đồng Tháp mười, ngay trong tầm oanh kích dữ dội của phi pháo địch. Không thể phủ nhận được chất thơ, chất tân văn và ý nghĩa xã hội của đề tài. Cũng không thể phủ nhận được sự xông sáo, sâu sát của tập thể những người làm phim. Nhưng nhược điểm của phim cũng bộc lộ khá rõ: Làm phim phóng sự chiến tranh nhưng mỗi khuôn hình đều được cắt cúp quá đẹp, quá chủ động trong sắp đặt bố trí, mỗi porter đều được chăm chút tỉ mỉ… Bộ phim được tung hô như một bài thơ ca ngợi tuyến đường gạo đạn. Nhưng “thơ” qúa hoá ra người xem nghi ngờ cả vào sự sâu sát thực địa của người làm phim, cả sự nóng hập của bản thân đề tài. Điều này một số nhà làm phim tài liệu CHDC Đức ngày đó đã hé lộ cùng ta.

Về những ví dụ tạo nên cái đẹp của chiến tranh theo cung cách nào ngay từ thuở xa xưa đó chúng ta đã tìm thấy những mẫu mực. Hẳn bạn còn nhớ bộ phim Chủ nghĩa phát xít thông thường của đạo diễn Xô Viết bậc thầy Mikhai Room, phim Nỗi đau khổ không của riêng ai của B.Babak và K.Ximonov, 79 mùa xuânMùa xuân hoà bình đầu tiên của Ekaterina Vermiseva. Hay phim Mùa Xuân năm Con Mèo và nhiều bộ phim khác làm về Việt Nam của đạo diễn tài liệu lừng danh người Cuba Sanchiago Anvaret.

Ở Việt Nam, vào thời kỳ nở hoa của thể loại phóng sự – tài liệu cuối những năm 1970 đầu 1980, thứ chủ nghĩa duy mỹ sơ lược, thô thiển đã bị giới làm phim phóng sự tài liệu phanh phui, mổ xẻ để lên án gay gắt. Không có cái đẹp chung chung, cái đẹp thoát ly khỏi nội dung và cái đích cần tới. Và cũng không chỉ có một quan niệm về cái đẹp, chất thơ.

Đáng tiếc, sau những kinh nghiệm, những bài học đã tổng kết, đúc rút được như vậy đến nay không ai nhắc lại, không còn được tôn trọng. Và thế là trong cơn say mê sáng tạo của mình, lớp trẻ bỗng thụt chân vào vũng bùn mà người đi trước đã tránh khỏi.
Còn lại với thời gian - Lasting with time(Bộ phim đoạt giải Cánh diều vàng 2005) - F2426